Sâu tơ

Diamondback moth. 小菜蛾.

Sâu tơ

Sâu tơ, với danh pháp khoa học là Plutella xylostella, thuộc bộ Cánh vảy (Lepidoptera) được công nhận trên phạm vi toàn cầu là một trong những loài côn trùng gây hại nghiêm trọng nhất đối với các loại cây trồng thuộc họ Cải (Brassicaceae). Vòng đời ngắn, khả năng sinh sản mạnh mẽ và số lượng thế hệ lặp lại nhiều lần trong năm tại các vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa đã biến loài này thành một cỗ máy tiến hóa, có khả năng phát triển tính kháng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) với tốc độ chưa từng có.

Đặc điểm hình thái của các giai đoạn phát triển

Vòng đời của sâu tơ là biến thái hoàn toàn, trải qua bốn pha phát triển hình thái riêng biệt: Trứng, Ấu trùng (sâu non), Nhộng và Thành trùng (ngài trưởng thành).

Trứng

Trứng của sâu tơ có kích thước rất nhỏ với đường kính trung bình 0,4-0,5 mm, dạng hình bầu dục hơi dẹt. Khi mới đẻ, trứng có màu trắng sữa hoặc vàng nhạt, bề mặt mịn và bóng. Ngài cái thường đẻ trứng rải rác từng quả đơn lẻ hoặc xếp thành từng cụm nhỏ 2-8 quả dọc theo các gân lá, chủ yếu tập trung ở mặt dưới của những chiếc lá bánh tẻ hoặc lá non. Khi phôi phát triển gần chín, màu sắc của trứng chuyển sang vàng đậm hơn và xuất hiện một điểm đen nhỏ ở đỉnh, tương ứng với bao đầu của sâu non chuẩn bị nở.

Ấu trùng

Sâu non của sâu tơ trải qua 4 tuổi phát triển, đi kèm với sự biến đổi rõ rệt về kích thước, màu sắc và cấu trúc cơ thể. Sâu non tuổi 1 mới nở có chiều dài khoảng 1,0-1,5 mm, cơ thể màu vàng nhạt hoặc xám xanh với phần bao đầu màu nâu đen rõ rệt. Giai đoạn này sâu non có tập tính sử dụng hàm nhai đục một lỗ rãnh vi mô để chui vào giữa hai lớp biểu bì lá, để gặm mô diệp lạp bên trong. Bước sang tuổi 2, sâu bắt đầu xuất hiện trên bề mặt lá (ưu tiên mặt dưới để tránh ánh sáng trực tiếp), cơ thể chuyển sang màu xanh nhạt, bắt đầu tạo các lỗ thủng nhỏ trên lá. Ấu trùng tuổi 3 có màu lục tươi, kích thước gia tăng 3,5-5,5 mm, có thể tạo các lỗ thủng kéo dài hoặc các mảng mô lá bị ăn khuyết. Bề mặt cơ thể xuất hiện các chấm trắng mờ nhỏ cùng những sợi lông tơ ngắn cứng. Khi đạt đến tuổi 4 là tuổi có sức ăn lớn nhất, sâu có kích thước tối đa 8-11 mm, cơ thể nở to ở phần giữa và thon nhọn ở hai đầu, biểu hiện sự phân đốt vô cùng rõ rệt. Sâu non có 5 đôi chân bụng; đặc biệt, đôi chân bụng cuối cùng ở đốt đuôi kéo dài hẳn ra phía sau, tạo thành hình chữ "V" đặc trưng giúp phân biệt tuyệt đối sâu tơ với các loài sâu ăn lá khác.

Nhộng

Sau khi phát triển đầy đủ, sâu non dừng ăn và kết một lớp kén tơ mỏng, đan thưa, màu trắng, dạng mạng lưới bao bọc bên ngoài cơ thể. Kén khá đặc trưng và có thể dùng để nhận biết sự hiện diện của sâu tơ trong ruộng. Nhộng nằm bên trong kén có cấu trúc hình thoi, thường dính chặt vào mặt dưới của lá rau hoặc đôi khi ẩn náu ở các bộ phận khuất của cây. Nhộng có chiều dài khoảng 5-7 mm, chiều rộng bằng 1/4 chiều dài. Ban đầu, nhộng có màu xanh nhạt đến hồng nhạt, sau đó chuyển dần sang màu vàng nâu và xẫm tối ngay trước khi vũ hóa. Đốt bụng thứ 10 của nhộng mang các móc tơ nhỏ (hooked setae) bám chặt vào cấu trúc kén.

Thành trùng

Ngài sâu tơ có kích thước nhỏ, vóc dáng tương đối mảnh mai, chiều dài cơ thể khoảng 6-10 mm với sải cánh rộng 12-15 mm. Thân và cánh có màu nâu xám hoặc xám tro. Cánh trước hẹp, mép ngoài mang hàng lông mịn kéo dài. Mép sau của cánh trước có một dải gợn sóng màu xám nhạt hoặc màu vàng kem. Khi ngài ở trạng thái nghỉ ngơi, hai cánh úp sát vào lưng như mái nhà, dải gợn sóng của hai cánh chụm lại tạo thành chuỗi 3 vệt hình kim cương chạy dọc sống lưng. Có sự dị hình giới tính nhẹ: con đực thường nhỏ hơn con cái, dải gợn sóng trên cánh có màu nhạt hơn (trắng tro), trong khi ở con cái dải này thiên về màu vàng nhạt. Đầu ngài có cặp râu đầu dạng sợi chỉ luôn hướng thẳng về phía trước khi nghỉ.