Họ Ngài cỏ

Họ Ngài cỏ

Họ Ngài cỏ (Crambidae), thuộc bộ Cánh vẩy (Lepidoptera), là một trong những nhóm côn trùng đa dạng và có sức tàn phá kinh tế khốc liệt nhất đối với hệ sinh thái nông nghiệp trên phạm vi toàn cầu. Các cây trồng trọng điểm thuộc họ Hòa thảo (Poaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Cải (Brassicaceae) và họ Cà (Solanaceae) đều là nạn nhân thường xuyên của nhóm côn trùng này. Pha gây hại chính là giai đoạn ấu trùng (sâu non) với tập tính chủ yếu là đục thân (stem borers), cuốn lá (leaf folders) hoặc đục quả (pod borers).

Các loài thuộc họ này thường xuất hiện trên đồng ruộng: Chilo suppressalis, Chilo polychrysus, Chilo agamemnon, Chilo auricilius, Chilo partellus, Cnaphalocrocis medinalis, Cnaphalocrocis patnalis, Ostrinia furnacalis, Ostrinia nubilalis, Scirpophaga incertulas, Scirpophaga innotata, Diatraea grandiosella, Diatraea lineolata, Diatraea saccharalis, Maruca vitrata, Loxostege sticticalis, Neoleucinodes elegantalis...

Đặc điểm hình thái của các giai đoạn phát triển

Chu kỳ sống của họ Crambidae tuân theo quá trình biến thái hoàn toàn (holometabolous), bao gồm bốn pha phát triển hình thái và chức năng chuyên biệt: trứng, ấu trùng, nhộng và thành trùng. Mỗi giai đoạn đều mang những đặc điểm cấu trúc tối ưu hóa cho mục đích sinh tồn, khai thác tài nguyên và sinh sản.

Trứng

Trứng (egg) thường dẹt, hình bầu dục hoặc hình vảy (giống vảy cá), được đẻ dưới dạng đơn lẻ hoặc thành ổ có phủ vảy/lông bảo vệ. Lớp vỏ ngoài mỏng nhưng dẻo dai, có cấu trúc lưới siêu vi để chống mất nước.

Ấu trùng

Ấu trùng (sâu, larva, caterpillar) với dạng hình sâu ống (eruciform) với 3 đốt ngực, 10 đốt bụng. Lớp biểu bì thường nhẵn bóng, nhưng trên mỗi đốt bụng thường có các nốt sần mang lông (pinacula) khá rõ nét. Đầu cứng, thường có màu nâu sẫm hoặc đen, được trang bị hàm nhai cực kỳ khỏe để cắn đứt các bó mạch dẫn hoặc biểu bì lá. Ở dưới đáy các chân bụng này có các móc câu (crochets) xếp thành một hoặc nhiều vòng tròn, giúp sâu non bám cực kỳ chắc chắn vào thành các ống thân trơn trượt hoặc khi di chuyển trên màng tơ mỏng manh do chúng giăng ra.

Nhộng

Nhộng thuộc dạng nhộng bọc (obtect pupa), có vỏ xơ cứng với màu sắc biến thiên từ nâu vàng, nâu đỏ đến nâu đen thẫm. Các phần phụ như chân, râu, và mầm cánh đều được xếp nếp gọn gàng và dính chặt vào cơ thể tạo thành một khối thuôn dài, cứng cáp. Đầu nhộng thuôn nhọn, phần đuôi mang gai đuôi (cremaster) với các móc nhỏ giúp nhộng bám chặt vào kén tơ mỏng được dệt bên trong nếp gấp lá, cọng thân hoặc dưới lớp tàn dư thực vật.

Thành trùng

Bướm đêm kích thước nhỏ đến trung bình với sải cánh 12-35 mm. Cánh trước thường thon dài, hình tam giác; trong khi cánh sau rộng hơn và có một lớp diềm lông tơ bao quanh viền cánh. Màu sắc cánh rất đa dạng, từ vàng rơm, nâu nhạt đến trắng trong, thường điểm xuyết các sọc vằn hoặc chấm đen để ngụy trang. Môi dưới (labial palps) phát triển dài, vươn thẳng ra phía trước đầu giống như một cái mõm. Vòi hút (proboscis) phát triển hoàn chỉnh và có các vảy phủ ở gốc vòi. Crambidae sở hữu một cấu trúc gọi là praecinctorium - một dải gân nối giữa hai màng nhĩ nằm ở gốc bụng. Cơ quan thính giác này cực kỳ nhạy bén, giúp chúng phát hiện được sóng siêu âm từ loài dơi (thiên địch tự nhiên) để kịp thời lẩn tránh trong không trung. Khi đậu nghỉ ngơi, chúng thường xòe cánh phẳng ép sát vào mặt lá hoặc xếp cánh thành hình tam giác/hình lều che khuất phần bụng.